This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Năm, 29 tháng 7, 2021

Vịt uyên ương, loài vịt siêu dễ thương

Vịt uyên ương là loài thủy cầm có vẻ đẹp xuất sắc. Vịt uyên ương sinh sống chủ yếu ở miền đông châu Á như Nga, Trung Quốc, Nhật Bản. Thế nhưng, những năm gần đây, do môi trường sống thay đổi nên số lượng loài này ở các vùng thuộc Nga, Trung Quốc đã suy giảm đáng kể, chỉ còn khoảng dưới 1.000 đôi.

Vịt uyên ương là loài chung thủy đi theo cặp. Đôi vịt uyên ương luôn sát cánh bên nhau, chỉ khi con mái ấp trứng cặp đôi mới tạm xa nhau sau đó lại trở về với nhau. Một con mái chỉ chung thủy với một con trống nên chúng được coi là biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi.


Vịt uyên ương trống có bộ lông sặc sỡ, vô cùng nổi bật. Mỏ vịt uyên ương trống có màu đỏ, phía trên của mắt có một vệt lưỡi liềm lớn màu trắng, ngực có màu tía với hai kẻ sọc trắng, bên hai hông là màu hung hung đỏ và ở lưng có hai cụm lông tựa như hai cánh buồm màu da cam.

Vịt uyên ương mái (con ương) có mầu sắc bình thường không xuất sắc như con trống. Con mái có vành khuyên màu trắng quanh mắt và sọc chạy ngược về phía sau từ mắt và nhạt dần. Bộ lông của chúng có sọc nhỏ màu trắng bên hông, đầu mỏ nhạt màu. Chiều dài của một con vịt uyên ương không quá 45cm, trọng lượng trung bình mỗi con chỉ khoảng 0,5kg.


Vịt uyên ương được đưa về nuôi ở Việt Nam từ nhiều năm trước và đã thu hút sự chú ý của nhiều người thích nuôi chim cảnh. Cũng chính vì độ quý hiếm và vẻ ngoài cuốn hút nên vịt uyên ương có giá khá đắt đỏ. Do khả năng sinh sản ít cho nên giá vịt uyên ương cũng tương đối cao. Hiện nay, loài vịt này cũng chưa được nuôi phổ biến và có rất ít cơ sở chăn nuôi cung cấp giống. 


Thứ Tư, 28 tháng 7, 2021

Chim chào mào

Chim chào mào là một loài chim thuộc bộ Sẻ phân bố ở châu Á. Chim chào mào được tìm thấy chủ yếu ở vùng châu Á nhiệt đới. Ngày này, chim chào mào đã được đưa vào tự nhiên ở nhiều khu vực nhiệt đới trên thế giới. Chào mào có một cái mào dễ nhận biết, hai má trắng và phía trên "mảng" trắng là màu đỏ.

Chim chào mào ăn trái cây, mật hoa và côn trùng nhỏ. Chim chào mào hiện diện ở nhiều nơi, từ trong rừng đồi và vào đến cả phạm vi thành phố. Tại Việt nam, chim chào mào còn có nhiều tên gọi khác như: chóp mào, hoành hoạch mồng, chóp mũ đỏ, đít đỏ... nhưng tên thông dụng nhất vẫn là chào mào. Chim chào mào cho tiếng hót hay và dễ nuôi. Chúng là dòng chim phổ thông được giới chơi chim ưa chuộng.


Mùa sinh sản của chào mào đạt cao điểm từ tháng 12 đến tháng 5. Chúng có thể sinh sản một hoặc hai lần một năm. Màn tán tỉnh của con đực bao gồm cúi đầu, xòe đuôi và rủ cánh. 

Tổ chim chào mào có hình chén, được xây trên bụi rậm, tường tranh hoặc cây nhỏ. Nó được dệt bằng cành cây, rễ cây và cỏ mịn, và được tô điểm bằng các vật lớn như dải vỏ cây, giấy hoặc túi nhựa. Các ổ thường chứa hai đến ba quả trứng. Trứng nở sau 12 ngày. Cả con cha và con mẹ đều nuôi dạy con chúng. Chim non được cho ăn sâu bướm và côn trùng, và khi trưởng thành sẽ dần dần được cho ăn thêm trái cây và quả mọng. 

 

Trong chế độ nuôi nhốt, chim chào mào ban đầu thường được trùm áo lồng cho chim tránh bị sợ hãi. Khi chim quen chủ sẽ vui mừng khi chủ đến cho ăn. Về tiếng hót chúng có thể học tiếng hót của nhau, với những con đực sẽ dùng tiếng hót để đấu nhau. Ngoài giọng hót, giới chơi chim còn rất thích những chú chim chào mào đột biến mầu trắng, chúng luôn có giá rất cao.


Trong môi trường nuôi nhốt, chim chào mào sẽ được cho ăn cám, hoa quả, sâu ... Lồng chim chào mào cần đủ rộng để cho chúng có không gian nhẩy nhót. 

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021

Nhện gai mai rùa

Nhện gai mai rùa hay còn gọi là nhện có sừng. Khác với những con nhện bụng tròn, nhện gai mai rùa có chiếc lưng đặc thù, nếu ai lần đầu gặp chúng sẽ có đôi chút giật mình. Thậm chí nhìn vào mầu sắc cũng e sợ chúng có độc. Nhưng thực ra chúng hoàn toàn vô hại với con người mặc dù hình dáng của chúng trông rất ghê sợ. Chính vì có cái gai mà loài nhện này có thể tránh bị các loài chim săn đuổi. 

Nhện gai mai rùa được tìm thấy khắp nơi trên thế giới. Vòng đời của nhện gai mai rùa là khoảng 1 năm. Chúng đẻ ra bọc trứng từ 100-260 quả.

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2021

Con liu điu chỉ, loài thằn lằn nhỏ có đuôi dài

Con Liu điu chỉ là một loài thằn lằn nhỏ, kỳ lạ này có một cái đuôi dài gấp sáu lần chiều dài thân và đầu của nó. Với bề ngoài đó có thể thấy nó khá giống một con rắn có chân. 


Liu điu chỉ có những hàng vảy to có sống chạy dọc trên lưng và có các vảy có hạt rất nhỏ ở bên hông. Vảy ở đuôi và ở bụng rất gồ. Đầu liu điu chỉ hình tam giác và thân có sọc xanh giống như rắn lục, đuôi dài nên người nào mới nhìn thấy lần đầu dễ giật mình.

Liu điu sống ở các khu vực có nhiều cỏ. Ngụy trang hình dạng của nó rất tài tình, vẻ ngoài và hoa văn lẫn màu sắc của nó hợp với màu cỏ khô. Đuôi dài của con liu điu giúp nó khỏi ngã khi leo trèo chậm hoặc di chuyển nhanh qua các chỗ cỏ cao, rậm, nối lìền nhau hoặc nơi cỏ đan vào nhau rời rạc và các nhánh tre nhỏ. 

Giống như các loài bò sát khác, liu điu linh hoạt khi trời nắng nhiều và sống ở nơi có độ cao tới 1.500m. Trong tự nhiên chúng dễ dàng bị làm mồi cho các loài chim và các loài động vật ăn thịt lớn hơn. Đuôi của liu điu chỉ rất dài và mong manh, dễ đứt. Tuy nhiên, cũng giống tắc kè: nó có thể mọc lại đuôi mới khi bị rụng.

Thức ăn chính của liu điu chỉ là các loài côn trùng đất như: ruồi, dế, sâu non. Chúng hoạt động chủ yếu vào ban ngày. Liu điu chỉ cái có thể sinh sản quanh năm. Chúng có thể đẻ tới 6 lần trong năm, mỗi lứa đẻ được khoảng 10 trứng.

Ở Việt Nam, liu điu chỉ thường bị săn bắt để làm thức ăn cho chim cảnh thì ở Mỹ, chúng lại được nuôi làm cảnh vì có màu sắc đẹp.

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2021

Rùa tai đỏ, rùa vạch đỏ - Loài rùa hung hăng, lỳ lợm và nguy hiểm

Rùa tai đỏ hay còn gọi là rùa vạch đỏ tên tiếng anh Red Ear Slider Turtle - tên gọi này xuất phát từ hình dáng bên ngoài: hai viền màu đỏ ở ngay phía sau mắt. Rùa tai đỏ có nguồn gốc Bắc Mỹ, chúng được du nhập vào Việt Nam từ năm 1994. Rùa tai đỏ có hoa văn khá đẹp, chúng là loài động vật ăn tạp như ăn cá nhỏ và các loại động thực vật thủy sinh.

Rùa tai đỏ sống bán cạn, chúng dễ thích nghi với nhiều loại môi trường sống. Rùa Tai Đỏ là loại động vật máu lạnh. Chúng không có thân nhiệt ổn định, nhiệt độ cơ thể thay đổi theo môi trường bên ngoài. Khi nhiệt độ môi trường giảm xuống còn 20°C, chúng sẽ dần mất sức, nhiệt độ xuống tới 15°C chúng sẽ tiến vào trạng thái ngủ đông. Rùa tai đỏ có tập tính thích sưởi ấm mỗi khi ăn xong để sưởi ấm cơ thể tiêu hóa thức ăn.  


Rùa tai đỏ khoảng 3 tuổi trở đi sẽ phân biệt được đực cái. Con đực sẽ có phần móng dài đuôi dài to béo, còn con cái có phần móng ngắn đuôi ngắn nhỏ hơn. Rùa cùng độ tuổi, con cái luôn lớn hơn con đực. Sau khi trưởng thành, toàn thân rùa đực sẽ chuyển sang màu đen. Rùa cái vẫn giữ lại màu nâu vốn có.

Rùa tai đỏ có tuổi thọ cao, có thể lên tới 40 năm. Chúng có khả năng thích nghi rất tốt, cộng với lớp mai đặc biệt cứng cáp nên gần như không có đối thủ khi xâm lấn các môi trường khác. Rùa tai đỏ được cho là động vật xâm hại khá nguy hiểm, chúng ăn tạp, thông minh và đanh đá. Loài rùa này cũng có tốc độ sinh sản nhanh hơn so với nhiều loài rùa bản địa của Việt Nam. Một rùa cái trưởng thành tần suất sinh sản 5 lần trong một năm, với số lượng trứng mỗi lần lên tới 30 quả. Ngoài ra, kích cỡ khá lớn của rùa tai đỏ cái có thể thu hút rùa đực khác loài, dẫn đến tình trạng làm loãng gene của rùa bản địa. Ngoài ra rùa tai đỏ thường mang trong mình nhiều khuẩn gây bệnh, có thể khiến các sinh vật trong khu vực chịu nhiều tổn thương, thậm chí diệt vong. Rất nhiều báo cáo cho biết rùa tai đỏ mang trên mình vi khuẩn Salmonella - một dạng vi khuẩn gây bệnh thương hàn. Theo thống kê từ Trung tâm phòng chống Dịch tễ tại Mỹ, có tới 70% người nhiễm khuẩn Salmonella tại Chicago là do tiếp xúc với rùa tai đỏ.

Rùa tai đỏ có thịt và trứng rùa tai đỏ cũng khá thơm ngon, ngoài ra thịt rùa tai đỏ cũng được sử dụng làm thuốc. Tuy vậy những nguy hiểm tiềm tàng của chúng thì vẫn nên thận trọng nếu muốn nuôi làm cảnh hoặc làm thịt.

Nuôi và chăm sóc rùa tai đỏ

Rùa tai đỏ trưởng thành, nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng là 25 – 30°C. Nhiệt độ cho ăn là 20 – 35°C, nhưng sức ăn mạnh nhất ở nhiệt độ nước 29 – 32°C. Ở 36°C chúng sẽ ngừng ăn, 38°C ít ăn, có thể chịu được nhiệt độ đến 40°C. Khi nhiệt độ giảm xuống còn 16°C, rùa ở trong trạng thái ngủ đông, dưới 1°C, chúng có nguy cơ bị chết cứng.Với rùa nhỏ yếu thì cần hỗ trợ nhiệt độ trong mùa đông.

Về môi trường sống, chúng cần môi trường nước, có đảo nhỏ để chúng phơi nắng và nghỉ ngơi. Khi nuôi với các loài rùa bản địa chúng có thể cắn chết rùa bản địa. 

Rùa tai đỏ khá khỏe nhưng cũng cần vệ sinh nước và môi trường sống của chúng sạch sẽ. Chỉ nên cho rùa ăn vừa phải, không cho ăn dư thừa. Cho rùa Tai Đỏ ăn gì cũng có thời gian cố định, thông thường vào mùa xuân, mùa thu là từ 10 – 14h, mùa hè thì 7 – 9h hoặc 18 – 19h thì thích hợp.

Rùa tai đỏ không thích ăn thịt nấu chín. Vì chúng chỉ ăn đồ ăn sống như sâu bột, thịt tươi, rau quả, lươn chạch, nội tạng tươi, chuột non… Khi cho chúng ăn cũng cẩn thận rùa có thể cắn hoặc tấn công tay người.


Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2021

Lửng mật ong, gã lãng du không sợ trời đất

Lửng mật ong là một loài động vật có vú thuộc họ chồn. Lửng mật ong là loài động vật thông minh, da dày, lỳ lợm và chẳng sợ độc. Lửng mật là loài động vật lợi hại bậc nhất trong thế giới động vật. Lửng mật ong có khả năng thích nghi rất cao, chúng phân bố rộng khắp thế giới.

Lửng trưởng thành có chiều cao đến vai 28cm, chiều dài cơ thể 50-77cm, phần đuôi dài 30cm. Con đực nặng từ 9-16kg, còn con cái nhỏ hơn, nặng từ 5-10kg. Dù có cơ thể nhỏ hơn sư tử và hổ báo nhưng lửng mật dám tranh ăn với cả đàn sư tử, cả đàn sư tử cũng chẳng làm gì được chúng.

 

Lửng mật có lớp da rất dày và chắc. Bộ da của lửng mật giúp chúng có thể phòng ngự trước mọi loại nanh vuốt của các loại thú khác. Không chỉ phòng ngự tốt, lửng mật bộ móng vuốt dài và hàm răng sắc nhọn cực khỏe. Ngoài ra lửng mật còn có thể kháng nọc ong, nọc rắn; dù bị rắn độc cắn trúng cũng không vấn đề gì. Không chỉ mật ong, thậm chí rắn độc chính là món ngon của lửng mật.

Lửng mật là loài rất thông minh, dẫu bị nhốt thì chúng cũng biết cách lợi dụng các công cụ để trốn thoát. Chúng là loài nghịch ngợm dám trêu chọc bất cứ mọi loại động vật.

Hầu hết lửng mật thường sống một mình trong các hang tự đào. Chúng là những kẻ đào đất chuyên nghiệp, chỉ trong 10 phút ngắn ngủi đã có thể tạo nên một cái hang trong lòng đất. Những cái hang này thường chỉ dài khoảng từ 1-3m. Lửng mật kiếm ăn đơn độc, tuy nhiên chúng cũng có thể phối hợp kiếm ăn cùng nhau trong mùa sinh sản.



Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

Chim sếu đầu đỏ

Chim sếu đầu đỏ hay còn gọi là sếu cổ trụi. Chim trưởng thành đầu và trên cổ trụi lông, trừ một đám màu xám ở má.  Sếu đầu đỏ là một loài chim lớn di cư. Chúng là động vật có tên trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ thế giới.

Đặc điểm dễ nhận diện là da trần ở đầu và cổ sếu có màu đỏ. Họng và vòng bao quanh gáy có ít lông đen. Dưới cổ và toàn bộ lông còn lại màu xám ngọc trai. Mắt vàng cam, mỏ xám lục nhạt. 

Sếu đầu đỏ có chế độ ăn tạp, có thể ăn các thức ăn thô thường gặp tại đầm lầy và các vùng nước nông như rễ, củ cây, côn trùng, động vật giáp xác và một số loài thú có vú nhỏ.

Sếu đầu đỏ sinh sản mỗi năm một lần, vào tháng 7 - 10 (mùa mưa). Mỗi năm một lứa, mỗi lứa 2 trứng, thường chỉ nuôi được một con. Tổ làm trên mặt đất bằng xác thực vật thuỷ sinh. Mỗi cặp sếu đầu đỏ khi kết đôi sẽ sống với nhau trọn vẹn cả đời. Khi một con mất đi, con còn lại sẽ thuỷ chung và thậm chí "tuyệt thực" để đi theo bạn đời.

 

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2021

Tháp chim bồ câu hàng trăm năm tuổi ở Iran

Chim bồ câu, hay đúng hơn là phân của chúng, từng trở thành nguồn tài nguyên quý giá ở Iran. Phân từ chim bồ câu chủ yếu được sử dụng làm phân bón, ngoài ra cũng được sử dụng trong ngành công nghiệp da với chức năng làm mềm da. Quan trọng hơn, phân chim là một thành phần thiết yếu trong sản xuất thuốc súng. Vì vậy, người dân Iran đã xây những tòa tháp cao 18 m để nuôi hàng nghìn con chim bồ câu.

Trong suốt thế kỷ 16 và 17, nhất là vào khoảng thời gian trị vì của triều đại Safavid, người Iran xây dựng rất nhiều tháp chim bồ câu. Chim bồ câu được nuôi thuần hóa không phải để lấy thịt (vì loài chim này đặc biệt được tôn kính trong đạo Hồi), mà chỉ để lấy phân. Người dân địa phương thu gom phân chim để bón ruộng dưa hấu và dưa chuột. 

 

Người thời Safavid có sở thích đặc biệt với dưa và tiêu thụ khối lượng rất lớn. Phân chim bồ câu được cho là loại phân tốt nhất cho những loại cây trồng này. Các tháp được xây dựng với mục đích thu hút chim bồ câu đến làm tổ và người dân có thể thu hoạch phân của chúng. 

 Vào thời kỳ thịnh hành, thành phố Isfahan có khoảng 3.000 tháp chim bồ câu. Ngày nay, khoảng 300 tháp vẫn nằm rải rác khắp vùng nông thôn trong tình trạng hư hỏng khác nhau. Phân bón và hóa chất hiện đại đã khiến những công trình kiến ​​trúc tuyệt đẹp này trở nên lỗi thời, dẫn đến việc các tháp bồ câu bị bỏ hoang trên những cánh đồng.


 

 Tháp chim bồ câu điển hình có hình trụ, được xây bằng gạch bùn không nung, vôi và thạch cao. Các tháp có đường kính từ 10 đến 22 m và cao từ 18 m trở lên, có thể nuôi tới 14.000 con chim bồ câu. Tháp này được xây dựng như những pháo đài bất khả xâm phạm có thể che chở chim bồ câu khỏi những kẻ săn mồi. Kích thước nhỏ của lối vào ngăn các loài chim lớn như diều hâu, cú hoặc quạ.

 Bên trong tháp bao gồm vô số tổ nhỏ xếp thành lớp đều nhau như bàn cờ, dọc theo các bức tường. Việc bố trí các chuồng chim kiểu bàn cờ này giúp sử dụng hiệu quả không gian, tối đa hóa số lượng lỗ và giữ cho trọng lượng cũng như khối lượng vật liệu xây dựng được sử dụng ở mức tối thiểu. 


Các tổ nuôi chim bồ câu có kích thước khoảng 20x20x28 cm, với một cây sào ngắn nhô ra ngoài. Tường của tháp được thiết kế nghiêng vào trong cho phép phân chim bồ câu rơi trực tiếp vào trung tâm hố thu gom phía dưới.  Các tháp được mở mỗi năm một lần để thu hoạch phân.


 Những con chim không bị bắt và huấn luyện để chui vào tháp mà là chúng bị thu hút theo bản năng, do kiến trúc của tháp giống những gờ đá và kẽ hở nơi chim bồ câu thích làm tổ, giao phối và nuôi con non trong tự nhiên. Những con chim chỉ được cung cấp nơi ở, còn thức ăn thì không. Ban ngày chúng đi kiếm nước và thức ăn. Vào ban đêm, những con chim sẽ trở lại tháp bồ câu.

Lười - loài động vật chậm chạp và lười biếng

Lười có 6 loài, chúng sống chủ yếu ở Nam Mỹ. Đặc trưng chung của lười là sự chậm chạp và ít vận động và có ngoại hình trông khá ngu đần, thờ ơ, nhưng đây chính là sự tiến hóa để thích nghi với môi trường sống không có nhiều chất dinh dưỡng thì chúng phải tiết chế năng lượng bằng cách hạn chế sự vận động. Chúng ngủ khoảng 9-16 tiếng 1 ngày, ăn uống chủ yếu là lá cây. 

Khi nuôi nhốt được thỏa mãn các nhu cầu dễ dàng thì lười thường ngủ nướng hơn 16 tiếng mỗi ngày. Nhưng trong tự nhiên lười chỉ ngủ chưa tới 10 tiếng, các con lười chỉ ngủ 9,6 tiếng mỗi ngày.

Ít vận động nên Lười sử dụng rất ít năng lượng. Lười chậm chạp đến mức động tác của nó trông giống như kỹ thuật chiếu chậm được dùng trong điện ảnh. Nó chậm đến nỗi cây cỏ cũng có thể mọc trên người nó. Vì chậm chạp nên lười gần như bất động và hòa mình vào môi trường. Khi dịch chuyển trên đất, tốc độ nhanh nhất mà nó có thể đạt được là 160m/giờ.


Lười có cấu tạo 3 đốt xương phụ ở cổ, vì thế Lười có thể quay đầu 270 độ. Điều này cho phép chúng đánh hơi thấy những kẻ săn mồi đang đến từ hầu hết mọi hướng. Đây chính là một lợi thế đặc biệt hữu ích khi chúng dành gần như toàn bộ thời gian để bất động trên cây. 

Sống bám trên cây nên các chi của lười có những sợi gân đặc biệt khỏe mạnh; đầu các ngón có móng vuốt mọc cong giống như chiếc móc giúp chúng dễ dàng bám chặt và treo ngược trên cành cây. Thậm chí có những chú lười đã chết nhưng vẫn bám chặt vào cành cây.

Lười có thể bám chặt ngược lâu mà không sợ việc tụ máu trên đầu. Bí mật nằm ở hệ thống tuần hoàn của lười cũng có một van đặc biệt, ngăn chặn được sự tụ máu trên đầu.

Lười di chuyển chậm chạp trên người có thể bê bết bùn đất, rêu .. Nhưng thật ra chúng không hề bốc mùi, vì chúng không toát mồ hôi. Và điều này có ý nghĩa rất lớn khi giúp chúng tránh được khả năng đánh hơi của những loài ăn thịt, và dễ dàng hòa vào môi trường tự nhiên.

Hệ tiêu hóa của lười cũng chậm tương đương như cơ thể nó. Thỉnh thoảng, lười cũng bò xuống đất đi tìm nước uống và đi vệ sinh, nhưng rất ít. Một tuần nó xuống đất một lần để loại bỏ chất thải.

Ngón chân con lười cong vào sẳn để treo mình lên cây và không cần bám vào bất cứ vật gì. Chúng chỉ cần móc móng vuốt qua cành cây. Khi sinh con, con của chúng cứ việc nằm và ngủ trên bụng con lười mẹ, và cả ăn, và đi vệ sinh ngay trên mình mẹ nó. Khi những cánh rừng bị ngập nước, chúng cũng có thể bơi đi tìm cành cây khác, nhưng cũng rất hiếm.

Chế độ ăn của con lười rất kém đa dạng về mặt dinh dưỡng, cùng với đó là sự chầm chậm ít di chuyển để tìm kiếm thức ăn, bởi vậy chúng cần dạ dày có kích thước lớn và có nhiều buồng để có thể chứa được nhiều thức ăn. Con lười có thể mất đến hàng tháng trời để tiêu hóa hết 1 bữa ăn, và nó cần một lối sống ít hoạt động để giữ cho việc dị hóa năng lượng ở mức càng thấp càng tốt điều này thường làm thân nhiệt của con lười hạ xuống rất thấp. Khi thân nhiệt xuống quá thấp, hệ vi khuẩn đường ruột của chúng sẽ dừng hoạt động, đồng nghĩa với việc dù đã ăn đủ cho cả tháng trời, nhưng con lười vẫn có thể chết đói, bởi vì thức ăn trong đường tiêu hóa của chúng không hề bị tiêu hóa.

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021

Hệ thống hô hấp ống khí của côn trùng

Cá hô hấp bằng mang; động vật có vú, động vật bò sát hô hấp bằng phổi, loài lưỡng cư còn có thể hô hấp qua da. Ở côn trùng cơ quan hô hấp của chúng là hệ thống ống khí, quá trình trao đổi khí diễn ra trực tiếp giữa cơ quan hô hấp với các tế bào. Côn trùng vì thế không có mũi như động vật trên cạn khác.

Hệ thống ống khí spiracles trên da giúp đưa oxi tiếp xúc trực tiếp với từng tế bào mà không cần thông qua hệ tuần hoàn. Những lỗ ngoài da này, đóng vai trò như các van đóng mở, dẫn không khí đến hệ thống hô hấp nội bộ bằng rất nhiều các ống có mật độ dày đặc được gọi là tracheae.

Hệ thống hô hấp của côn trùng hoạt động như một miếng bọt biển. Bọt biển có những lỗ nhỏ để nước vào bên trong làm ẩm miếng bọt biển. Tương tự như vậy, các lỗ hổng trên da (spiracle) cho phép không khí vào hệ thống khí quản nội bộ thấm các mô của côn trùng với oxy. Carbon dioxide được chuyển hóa cũng thoát ra khỏi cơ thể thông qua các spiracles. Các spiracles có thể được mở và đóng một cách hiệu quả để giảm sự mất nước. Các van spiracles được điều khiển bởi các cơ xung quanh nó.

Côn trùng có thể kiểm soát hô hấp ở nhiều mức độ. Một con côn trùng có thể mở và đóng spiracles bằng cách sử dụng các cơ. Ví dụ, một con côn trùng sống trong môi trường khô cằn, sa mạc có thể giữ các van spiracle đóng lại để tránh mất độ ẩm. Ngoài ra, côn trùng có thể đẩy không khí xuống khí quản bằng việc mở liên tục các van spiracles, do đó đẩy nhanh việc cung cấp oxy. Trong trường hợp nhiệt độ cao, côn trùng thậm chí có thể thổi không khí bằng cách luân phiên mở các spiracles.

Tuy nhiên, tỷ lệ oxy trong không khí là không thể kiểm soát. Từ thời tiền sử, tỷ lệ oxy trong không khí rất cao, do đó côn trùng sử dụng hệ thống hô hấp này và nó có kích thước to hơn rất nhiều so với hiện nay. Ngày nay tỷ lệ oxy thấp hơn nên kích thước của cồn trùng cũng vì thế mà nhỏ đi.

Khi ở dưới nước côn trùng vẫn có những cách riêng để tồn tại. 

Oxy chiếm 20% trong không khí và chiếm khoảng 0,00015% trong nước. Mặc dù vậy, một số loài ấu trùng côn trùng vẫn có thể sống trong nước trước khi chúng trưởng thành. 



Thứ Hai, 14 tháng 12, 2020

Cá sấu - Nước mắt cá sấu

Hiện tượng cá sấu chẩy nước mắt là do chúng đang bài tiết muối khỏi cơ thể qua đường nước mắt. Nước mắt cá sấu không phải do chúng buồn bực điều gì cả. Giống bò sát với não nhỏ này luôn là loài vật khát máu hung tợn chứ không có một chút mềm yếu nào. Mỗi khi nuốt chửng con mồi chúng lại tiết ra nước mắt có lẫn muối.


Hiện tượng nước mắt cá sấu làm cho con người liên tưởng đến sự ăn năn khi làm việc ác. Cũng chính vì thế thành ngữ nước mắt cá sấu có ý ám chỉ chỉ sự giả tạo bề ngoài thương hại kẻ khác nhưng trong lòng lại vui sướng vô cùng.

Ngoài tự nhiên mắt cá sấu rất tinh tường, thậm chí chúng nhìn được cả trong bóng tối. Trong bóng đêm, mắt cá sấu vẫn có thể nhìn rõ mọi vật. Mắt cá sấu có chứa các tinh thể guanine, tạo thành lớp tapetum lucidum, nằm ở phía sau võng mạc. Điều này giúp mắt cá sấu phản xạ được ánh sáng và giúp chúng nhìn được trong bóng tối.

Vảy cá sấu thu nhiệt từ Mặt trời. Nhiệt độ cơ thể của cá sấu phụ thuộc vào nhiệt độ bên ngoài, vì vậy chúng được xếp vào nhóm động vật máu lạnh. Vảy trên da cá sấu chưa nhiều mạch máu, bao gồm mạng lưới các mao mạch nhỏ giúp đẩy máu qua vảy nóng, thu nhiệt từ mặt trời. Nhờ đó máu trong cơ thể được làm nóng lên và giữ ấm cho cơ thể. Vì vậy, khi muốn nhiệt độ tăng lên, cá sấu thường phơi nắng. Khi cần mát, chúng thường ẩn vào bóng râm hoặc dìm mình vào nước.

 Cá sấu có thể bật thẳng đứng tấn công con mồi, hoặc đi bộ kiễng chân cao khỏi vùng cát nắng. Tuy nhiên, cá sấu có khả năng tấn công con mồi khá nhanh bằng cách tăng tốc bật thẳng đứng. Nó có thể lắc lư chiếc đuôi để tạo lực đẩy và bất ngờ phóng thẳng lên không trung theo chiều thẳng đứng và tấn công con mồi. 

Khi nằm trên cạn, cá sấu thường mở miệng. Thói quen này không phải là một cử chỉ khiêu khích của chúng, mà là do cá sấu tự làm mát mình: bằng cách để mồ hôi thoát qua miệng.

Vịt con và hiện tượng hiệu ứng vịt con

Vịt nhà là động vật đẻ rơi trứng và không có khả năng ấp trứng như gà, vịt trời, ngan. Việc chú vịt con sinh ra không biết mẹ chúng là con nào là chuyện dễ gặp. Khi chú vịt con nở, nó được lập trình là nhìn cái gì chuyển động đầu tiên là mẹ của nó. Dù là chú gà hay con người, miễn là khi chúng ta xuất hiện lúc nó mới nở, nó sẽ mặc định ta là mẹ nó.

 


Hiệu ứng chú vịt con đặt ra vấn đề là chúng ta khó khăn trong chấp nhận sự thay đổi, để đón nhận những làn gió mới mẻ dù nó khoa học hơn, đúng đắn hơn. Không có gì là vĩnh cửu, mọi thứ đều phải thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu cuộc sống, và chúng ta cũng cần tập thay đổi định kiến thì mới hòa nhập được với thế giới đổi thay từng ngày.

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2020

Chim sẻ trên cánh đồng Việt Nam

Cảnh tượng chim sẻ ríu rít hàng trăm con đua về đậu trên những ngọn cau đã dần xa rời các làng quê Việt. Các loại bẫy thi nhau tiêu diệt loài vật này. Từ bẫy dính, bẫy âm thanh, bẫy lưới khiến cho những tổ chim hoang vắng, những quả trứng lạnh lẽo và lũ sẻ con chết đói. Đưa sẻ lên bàn nhậu đã và đang tiêu diệt nét quê hữu tình.



Dẫu biết sẻ quá nhiều sẽ làm thiệt hại về thóc và mùa màng, dẫu biết rằng một chút thịt sẻ sẽ làm các quý ông đề cao năng lực. Nhưng thực sự con người đã và đang không thoát khỏi sự tàn ác của chính mình. Con người không biết rằng sẻ chính là loài bắt sâu bọ vô cùng có ích. Tại sao con người lại bắt nạt những con vật bé nhỏ. Tại sao không thể cảm nhận thiên nhiên, cảm nhận tiếng kêu ríu rít thành bầy. Cắm đầu vào bàn nhậu, cắm đầu vào vài ba đồng lẻ để thôn quê hoang vắng, một tiếng chim thanh bình tìm cũng khó. Chúng ta đang học theo lối sống tàn nhẫn điệt chim sẻ của trong những năm 1958 tại Trung Quốc. Diệt chim sẻ, châu chấu đã phá nát mùa màng và gây nạn đói tại Trung Quốc.



Những chú sẻ màu lông nâu hiền lành như đất, mỗi lần về quê tôi lên trần nhà ngắm lũ sẻ rúc rích nơi đầu hè, trên ngọn tre, ngọn cau mùa làm tổ mà vui. Những mùa này vắng tiếng sẻ buồn đến nao lòng. Nghe vài người tỷ tê vui sướng dăm ba câu truyện bẫy sẻ mà lại thấy lòng hoang vắng lạ kỳ.



Rất nhiều người tiếc sẻ, nhưng nào ai ngăn được lòng tham con người. " Những đàn chim se sẻ bay về thường báo hiệu bắt đầu hay kết thúc một vụ mùa mới của bà con quanh năm lấm lem bùn đất. Chim sè sẻ về, niềm vui, nỗi buồn của người dân quê như cũng được chia sẻ bớt. Bờ tre, gốc rạ cũng trở nên vui hơn, có hồn hơn. Vậy mà, dần dần, những bầy chim sẻ thưa dần đi, những đôi cánh sè sẻ nghi ngờ và hoang mang hơn khi chạm vào từng miếng đất, từng khoảnh ruộng của làng quê Việt hiện đại."

Sẻ khướu trống
Ngày xưa, lũ nhỏ chúng tôi thường đi bắt sẻ cam. Nuôi chúng lớn, chúng theo người, khôn lắm. Thiên nhiên vui vầy, có ong, có cá, có chuồn chuồn, có châu chấu, có bướm .. Giờ thì chỉ có thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ những con đường bê tông vắng lạnh. Dù sao cũng cầu mong đất nước phát triển, tư duy của người dân về thiên nhiên được nâng cao. Con cháu chúng ta không phải cắm cổ vào điện tử vào game. Chúng có quyền tận hưởng thiên nhiên và cảm nhận tình cảm với thiên nhiên. Thiên nhiên chính là tài sản mà chúng ta phải biết để lại cho thế hệ con cháu.

Đôi phần tập tính của chim sẻ:

Chim sẻ là động vật ăn hạt, trái cây và ăn sâu, nhưng nó có thể thay đổi tập quán ăn uống khi sống gần gũi với con người. 

Chim sẻ có thể bay rất nhanh để chạy trốn khỏi kẻ săn mồi. Kẻ thù chính của chim sẻ là chó, mèo, cáo và rắn. Nó thường xây tổ dưới mái nhà, gầm cầu hoặc hốc cây. Chim đực sẽ chịu trách nhiệm xây tổ và trong quá trình này, nó sẽ cố gắng quyến rũ những con cái. Chim cái sẽ giúp chim đực cùng xây tổ nếu chim cái “quan tâm” tới việc giao phối với con đực.

Chim sẻ trưởng thành ăn hạt là chủ yếu nhưng nuôi con bằng sâu. Nuôi con bằng sâu giúp chim non tiêu hóa tốt và trưởng thành nhanh.  

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2020

Chim cú mèo

Cú mèo là loài chim thích đi săn trong màn đêm. Loài cú có tầm nhìn ban đêm cực kỳ tốt. Chúng có thể tự "giấu" đi sự hiện diện của mình mà không để lộ một tí âm thanh nào.

Khác với những loài chim ồn ào. Riêng với cú, khi bay chúng gần như không phát ra âm thành nào, kể cả tiếng xào xạc.



Để có khả năng này, lông vũ của chim cú được tạo hóa thiết kế với khả năng khí động học cực cao, nó hấp thu được rung động và triệt tiêu được tiếng đập cánh, kết quả là cú tấn công vồ mồi sẽ hoàn toàn yên lặng, nạn nhân không biết được chim cú bay tới từ lúc nào.

Mỗi khi chim cú vỗ cánh, thiết kế lông vũ trên cánh của nó có khả năng biến đổi động năng thành nhiệt năng, giúp triệt tiêu được tiếng động của việc đập cánh. So với lông chim ưng, cánh của chim cú trông xù xì hơn rất nhiều. Thế nhưng chính sự xù xì đó lại tạo ra sự im lặng chết chóc cho con mồi.

Và nhìn chung cánh của chim cú trông rộng và lớn hơn đôi cánh gai góc của chim ưng rất nhiều. Vì thế tuy chúng bay chậm hơn nhiều, nhưng lại giữ được thời gian bay ổn định. Khi bay cú mèo không cần phải đập cánh liên tục. Càng ít đập cánh, càng ít âm thanh.

Chim hồng hạc

Chim hồng hạc là loài chim có vẻ đẹp kiêu sa. Loài chim này có rất nhiều bí mật có thể có rất nhiều bí mật mà chúng ta chưa biết. Và hãy cùng chúng tôi khám phá

Mỏ hồng hạc có cấu tạo độc nhất trong thế giới loài chim, không bao gồm mỏ dưới nhỏ cử động theo mỏ trên lớn hơn. Thay vào đó, mỏ trên mới là bộ phận có thể cử động và cũng nhỏ hơn mỏ dưới rất nhiều. Đây là cách để chim hồng hạc thích nghi với phương thức ăn đặc biệt khi dùng chiếc mỏ theo một cách ngược đời.


Lý do là thay vì chủ động đi săn như các loài thủy cầm khác, chúng là loài ăn lọc, tựa nhự cá voi sừng tấm. Để làm điều này, đầu tiên hồng hạc hút nước vào cổ họng bằng cách rút lưỡi của chúng ngược vào trong. Sau đó, chúng đóng miệng và dùng lưỡi đẩy nước ra ngoài qua một cấu trúc giống như tổ ong ở mỏ trên.

Hồng hạc có thể lặp lại quá trình này đến 4 lần/giây, lọc ra mọi thứ trong nước mà chúng khuấy lên bằng chân, chủ yếu là tảo và các loài giáp xác nhỏ. Những thức ăn này cũng là nguyên nhân khiến hồng hạc có màu hồng do chứa sắc tố carotenoid.

Sáu tố đỏ phổ biến trong tự nhiên và cũng là lí do cà chua, cà rốt có màu đỏ. Qua nhiều năm tháng, sắc tố này tích tụ trong cơ thể hồng hạc từ từ biến bộ lông vũ màu trắng hoặc xám của chúng thành màu đỏ hoặc hồng.

Khoảng 2 tháng sau khi trứng nở, trong khi chờ mỏ của chim non phát triển, chúng được bố mẹ cho ăn. Chất lỏng giàu chất béo và protein được tiết ra từ một tuyến đặc biệt lót ở toàn bộ phần trên của bộ máy tiêu hóa. Sự tiết sữa diều được tạo ra bởi prolactin, protein kích thích sản xuất sữa ở động vật có vú. Ở loài hồng hạc, cả chim cái và chim đực đều tiết ra chúng.

Về mặt thành phần dinh dưỡng, sữa hồng hạc khá giống sữa thật nhưng có một khác biệt lớn. Sữa hồng hạc chứa đầy tế bào máu đỏ và sắc tố nên có màu đỏ thẫm.
Tại sao hồng hạc đứng mãi bằng một chân mà không mỏi?
Cũng giống như ngựa luôn ngủ đứng hay dơi ngủ ở tư thế treo ngược, cơ thể hồng hạc tiến hóa tự "cố định" chân để giúp tiết kiệm được năng lượng.
Để lý giải cho chuyện này, các chuyên gia cho rằng điểm mấu chốt nằm ở bộ khớp chân đặc biệt của hồng hạc. Khi chân đặt đúng vị trí, các khớp chân gần như tự động cố định, bất kể ống chân dịch chuyển như thế nào. Ngay cả trên xác của hồng hạc, cơ chế này vẫn hoạt động như vậy.
"Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động cơ bắp khi đứng bằng một chân của loài hồng hạc thực sự thấp hơn so với khi đứng bằng hai chân", các chuyên gia nói.
Các nhà nghiên cứu ở Mỹ đã khám phá ra sự thật rằng chân của loài hồng hạc có kết cấu hỗ trợ tư thế một cách chuẩn xác và phù hợp để chân chúng được giữ thẳng cố định một cách yên vị. Hay nói cách khác, chúng gần như không tiêu tốn sức mạnh cơ bắp nhiều khi duy trì dáng đứng đó.
Điều này nghe có vẻ hơi khó hiểu vì thông thường, con người chúng ta sẽ nghĩ rằng đứng trên 1 chân thực sự khó và tốn sức hơn nhiều so với 2 chân. Nhưng thiên nhiên là vậy, luôn chứa đầy những điều bất ngờ và không thể đoán trước được.

Sữa chim, sự thật lạ lùng

Không có vú nhưng chim cũng có sữa, nghe rất lạ lùng. Nhưng đó lại là sự thực ít người biết. Không giống các loài thú, loài chim thường phải nuôi con bằng thức ăn thô ngay từ lúc con mới nở. Trong quá trình tiến hoá, nhiều loài chim đã tìm cách khắc phục nhược điểm trên. Có thể kể đến là các loài chim trong họ bồ câu, chim hồng hạc, chim cánh cụt hoàng đế đực. Sữa được chim tiết ra từ một cơ quan gần cuống họng nên còn gọi là sữa diều.



Không vú vẫn ra sữa 

Bồ câu thường ăn chủ yếu các loại hạt ngũ cốc và hạt trái cây rừng, ít khi ăn côn trùng. Con non mới sinh, tốc độ tăng trưởng rất nhanh nên cần một lượng lớn chất bổ dưỡng, đặc biệt là nguồn thức ăn giàu đạm, trong khi đó dạ dày chim non lại phát triển chưa hoàn chỉnh nên không thể tiêu hoá các loại hạt ngũ cốc. Do vậy, chim mẹ phải nuôi con bằng sữa diều. Trước khi con non nở vài ngày, chim bố và chim mẹ sẽ bắt đầu tiết ra sữa diều. Việc tiết sữa tiêu tốn rất nhiều năng lượng, nhưng hạt và trái cây chứa ít chất đạm, đó là lý do vì sao bồ câu chỉ đẻ hai trứng trong mỗi mùa sinh sản và cả chim trống mái đều tham gia tiết sữa diều nuôi con. Vào tuần đầu tiên, chim bố mẹ hạn chế ăn để tránh lẫn hạt vào sữa của con. Nhưng bắt đầu từ tuần thứ hai, chim bố và mẹ sẽ pha lẫn hạt vào thành phần thức ăn của con cho quen dần. Còn với hồng hạc chúng sẽ bón sữa cho con bằng mỏ, sữa của chúng có mầu đỏ đặc trưng.



Sữa bò còn thua
Sữa diều của bồ câu hơi giống sữa của động vật có vú, nó là một chất bán rắn màu vàng nhạt giống như phômai. Hàm lượng protein và chất béo chứa trong sữa diều cao hơn cả sữa bò và sữa người. Thành phần bao gồm chất chống oxy hoá, chất miễn dịch, protein, lipit, muối khoáng, vitamin và các loại men tiêu hoá như amylaza, sarcaraza giúp con non dễ hấp thụ hơn.

Ông bố tuyệt vời
Chim cánh cụt hoàng đế đực, được mệnh danh là ông bố “number one” của giới động vật. Nơi chúng sinh sống là một thế giới vô cùng lạnh lẽo. Không những con chim cánh cụt con luôn được sưởi ấm trong đôi cánh ấm áp của chim cánh cụt bố mà chúng còn được chăm sóc tỉ mỉ.

Chim cánh cụt hoàng đế giao phối vào mùa đông. Chim cánh cụt mẹ đẻ ra xong một quả trứng rồi cuộn nó vào chân của chim cánh cụt bố, sau đó chim mẹ nhanh chóng rời đi kiếm ăn bổ sung dinh dưỡng để chim cánh cụt bố chăm sóc cho trứng.

Chim cánh cụt bố phải nhịn ăn hơn 100 ngày để chờ con chúng ra đời. Chúng phải chịu đựng những cơn gió lạnh tột độ và thậm chí những chú chim cánh cụt bố phải túm tụm lại với nhau để tạo thành một nhóm lớn nhằm giữ ấm cho những đứa con bé bỏng sắp chào đời.

Nếu chim cánh cụt mẹ không trở lại đúng thời gian sau khi trứng nở, chim cánh cụt bố sẽ tạo ta một chất giống như sữa đặc từ thực quản của chúng để nuôi con. Chim cánh cụt con được bố mẹ sưởi ấm cho đến khi chúng đủ lông đủ cánh.

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2020

Các loại chó cảnh

1) Phốc sóc

Đây là loài chó vô cùng nhỏ nhắn và đáng yêu, toàn thân được phủ một lớp lông dày xù, khiến thân hình của chúng bị phồng to hơn so với thực tế. Loài chó này rất được người yêu chó cảnh ưa chuộng vì chúng rất khôn, biết vâng lời, trung thành, và sủa rất dai nên rất thích hợp với việc giữ nhà. Nhược điểm duy nhất của chúng là vì quá nhỏ bé, khung xương yếu nên chúng rất dễ bị chấn thương nếu chủ vô ý hoặc đùa giỡn quá mạnh tay.



2) Poodle

Poodle là giống chó lội nước và săn vịt trời nổi tiếng của Pháp (hoặc Đức). Chúng có bộ lông rất dày và xoăn tít như những chú cừu, giúp chúng giữ ấm khi ngụp lặn trong các vùng đầm lầy châu Âu. Chó Poodle có 3 kích thước phổ biến là toy (cao dưới 25cm), mini (25 – 40cm) và standard (cao trên 40cm). Những chú toy Poodle được xếp vào một trong những giống chó cảnh đẹp và đáng yêu nhất thế giới. Ở Việt Nam, toy Poodle là giống được nuôi phổ biến nhất, ngoài ra còn 2 giống khác (không được công nhận chính thức) là tiny poodle và teacup Poodle.



3. Siberian Husky

Chó Husky xuất xứ từ vùng Siberia - Nga và là loài có họ hàng rất gần với chó sói. Từ hàng nghìn năm trước, người ta đã lai tạo và nhân giống chó Husky để kéo xe tuyết và chuyên chở hàng hóa khắp khu vực Siberia. Những chú chó Husky có thân hình khiêm tốn nhưng cân đối, dáng vẻ dũng mãnh và cực kỳ dẻo dai. Chúng có thể chạy và kéo xe liên tục hàng chục cây số trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt mà không cần dừng nghỉ. Lông chó Husky có 2 lớp và rất dày giúp giữ ấm cơ thể trong thời tiết xuống tới - 50 độ. Ngày nay, người ta ít dùng chó Husky để kéo xe mà thường nuôi làm thú cưng trong nhà vì vẻ đẹp hút hồn của chúng.


4) Chó Alaska
Có chung nguồn gốc với Husky nhưng chó Alaska có những đặc điểm khác biệt thấy rõ như kích cỡ to hơn, lông dài hơn, đuôi cong xù hoặc thẳng chứ không cụp như Husky.



5) Golden Retriever
Golden là giống chó săn có nguồn gốc từ Anh, được lai tạo qua nhiều thế hệ từ rất nhiều giống chó khác nhau. Golden là giống chó có bản năng săn mồi rất mạnh mẽ, khả năng dò tìm dấu vết dựa vào mùi rất tốt, vì vậy chúng được cảnh sát nhiều nước trên thế giới dùng để dò tìm ma túy và chất nổ. Tuy là giống chó săn nhưng với con người chúng rất hiền lành, thân thiện, nghịch ngợm và đặc biệt trung thành. Chó Golden có thân hình cân đối, khỏe khoắn. Bộ lông có màu đa dạng, từ vàng kem đến nâu (màu đỏ không được công nhận là Golden).



6) Beagle

Với chiếc đầu to, mõm ngắn vuông, đôi mắt tròn xoe và cặp tai lớn lúc nào cũng cụp xuống, giống chó nhỏ bé này rất được ưa chuộng vì vẻ đẹp và sự dễ thương của chúng. Loài chó này rất thông minh và biết nịnh, thích được vuốt ve cưng nựng, đặc biệt dù nhỏ con nhưng chúng săn bắt rất giỏi.



7) Chó Becgie Đức

là giống chó cỡ trung bình, nặng từ 20 – 40kg, cao 55 – 65cm, xuất xứ từ Đức. Đây là một giống chó khá mới trong gia phả loài chó, được lai tạo lần đầu vào năm 1899 ở Đức, thuộc nhóm chó chăn gia súc. Ban đầu được gây giống để chăn cừu, về sau được huấn luyện để phục vụ trong cảnh sát và quân đội do sự thông minh, mạnh mẽ, nhanh nhẹn, trung thành và có khả năng tuân thủ tốt mệnh lệnh trong huấn luyện. Chó Becgie là giống chó phục vụ nhiều nhất trong lực lượng cảnh sát ở các nước trên thế giới.



8) Chó Corgi
Đít to chân ngắn đuôi ngắn, cân nặng từ 10-13kg. Chó thích chạy nhảy mỗi ngày, nếu không sẽ cắn phá đồ đạc.



9) Chó bull Anh

Loài này lười vận động chỉ thích ăn và ngủ. Chúng có thể nằm nhà cả ngày, không phá phách đồ đạc. Chúng phàm ăn, dễ nuôi và cũng dễ béo phì :)



Thứ Hai, 4 tháng 3, 2019

Cá phổi Châu Phi - lung fish

Cá phổi là loài cá có khả năng sinh tồn phi thường, dù nằm bất động trong cái kén cả 4 năm trời nơi đất khô cằn, một khi được bỏ xuống nước, chỉ ít phút sau nó lại tung tăng bơi lội như bình thường. Cá Phổi (Lungfish) ngoài bộ phận mang để lọc dưỡng khí trong nước còn có luôn bộ phổi để hít thẳng không khí ở ngoài trời.

Có những vùng ở Châu Phi trên 3 năm mà không có một trận mưa nào. Đất khô cong, cằn cỗi, đào xuống sâu cả 3 thước vẫn không tìm được một chút ẩm. Thế rồi ngày hôm đó, tự nhiên trời vận chuyển bất ngờ, mây đen từ đâu kéo tới đông nghịt, rồi mưa, mưa trút xuống ào ạt và liên miên cả mấy ngày liền. Chẳng mấy lúc, tất cả mọi nơi nước dâng lên từ từ rồi đầy ắp, xóa tan đi cảnh hãi hùng vì nạn hạn hán kéo dài cả mấy năm trời.

Một điểm đặc biệt hơn nữa là sau đó chỉ một thời gian ngắn, họ chuẩn bị dụng cụ để đi bắt cá. Cá? Tại sao lại có cá? Cá từ đâu tới? Chúng từ lòng đất chui lên chăng? Không thể được vì làm gì có nước. Hay chúng từ trên trời rớt xuống? Chuyện này có thể có được vì vào thế kỷ thứ 15, người ta ghi nhận trong một cơn mưa người dân địa phương một xứ nọ có thấy những con cá nhỏ từ một đám mây rớt xuống. Nguyên nhân cũng dễ hiểu vì có một trận cuồng phong, hút nước từ một cái hồ đã hút bốc theo một đàn cá, đưa lên mây rồi nhờ gió mang đi thật xa cho đến lúc mây đông lại thành hạt, rớt xuống thành mưa, đồng thời trút xuống luôn cả đàn cá.


Nhưng đây lại không phải thế, vì người dân Phi Châu khi bắt được cá mang về có con rất lớn. Cá to như vậy, vòi rồng cũng không thể hút cá bay đi quá xa. Như vậy là loại cá này vẫn sống tại địa phương suốt trong thời gian dài hạn hán, đất khô cằn, nứt nẻ vì không có nước và câu “Cá sống vì nước” hoàn toàn không áp dụng được với chúng. Loài cá phổi châu phi vẫn sống và chịu đựng thời tiết khắc nghiệt, đến khi mưa đến thì lại hồi sinh bơi lội.

Theo những di tích hóa thạch được tìm thấy, các khoa học gia nhận thấy loại cá phổi này có từ 300.000.000 năm về trước và qua một thời gian thật dài như vậy, chúng cũng không thay đổi nhiều nên người ta coi chúng như những “sinh vật hóa thạch còn sống”. Tuy nhiên, xưa kia chúng có rất nhiều trên khắp thế giới nhưng ngày nay chúng còn có sự hiện diện vỏn vẹn ở 3 nơi: Phi Châu, Úc Châu và Nam Mỹ Châu. Tuy ở 3 miền xa biệt nhưng chúng hao hao giống nhau, đều sống ở vùng nước ngọt, thân hình tròn và dài ngoằn như lươn, có vẩy nhỏ và mượt. Bốn chiếc vây không xòe cánh quạt như giống cá khác, trái lại nhỏ và dài như râu, không phải để bơi mà để trườn trên bùn. Trong 3 loại, giống ở Phi Châu lớn nhất có con dài tới 7 foot, tức 2,1 mét, nặng cả trên 100 pound và có tên khoa học là Protopterus. Tuy có cả mang lẫn phổi nhưng chúng dùng phổi để thở có tới 95 phần trăm, còn họa hoằn lắm mới dùng tới mang. Do vậy, cứ khoảng 20 phút chúng lại phải ngoi lên mặt nước há miệng ra để thở vì lỗ mũi nằm ngay trong miệng. Sau khi hít một hơi dài cho không khí vào đầy buồng phổi, nó lại lặn sâu xuống đáy nhởn nhơ săn mồi trong cái giang sơn riêng biệt của nó. Tuy nhiên nếu vì một nguyên nhân nào đó, nó bị giữ dưới nước lâu dài không cho ngoi lên, thì nó cũng bị ngộp thở chết đuối như những thú vật khác trên cạn. Nhưng chúng không bao giờ lại tự động nhảy lên bờ để hoàn toàn được thở tự do cái bầu không khí rộng lớn của trời đất.

Đến mùa sinh nở, cả con đực và con cái đều tìm đến với nhau. Chúng quanh quẩn bên nhau một thời gian rồi chàng và nàng sát bên nhau cùng xây dựng một tổ ấm nhỏ, xinh xắn ngay dưới bùn. Rồi nàng đẻ vào đó khoảng 5.000 cái trứng và chàng vội vã phủ lên trên những màn mỏng tinh trùng cho trứng thụ thai, nở thành con. Đến đây, con cá cái xem như nhiệm vụ “mang nặng đẻ đau” của mình đã xong, nó lặng lẽ bỏ ra đi như hối tiếc thời thanh xuân vừa bị bỏ phí vì mang bầu. Còn anh chồng thấy vợ bỏ đi, anh buồn rầu, ngơ ngẩn như không đành lòng bỏ đàn con côi cút, nên vẫn một mình quanh quẩn bên chiếc tổ. Rồi như nghĩ đến nhiệm vụ cao quý của một người cha, tự nhiên anh như quên đi người tình cũ bội bạc, nên hăng hái hoạt động trở lại. Anh bơi lên, bơi xuống, lấy thân hình đồ sộ của mình để đe dọa, đuổi những đàn cá khác đang mon men bơi lại gần tổ của anh để rình đớp trứng.
Ngoài nhiệm vụ canh gác bảo vệ đàn con, thỉnh thoảng anh còn bơi đến gần miệng tổ để uyển chuyển, uốn éo thân mình phe phẩy chiếc đuôi hầu làm nước chuyển động, tạo điều kiện thuận lợi, tốt lành cho sự nẩy nở của lớp trứng. Trong thời gian này, các nhà bác học nhận thấy cá phổi mải mê với nhiệm vụ và cũng sợ lúc vắng mặt mình, cá khác đến nuốt hết trứng nên nó hầu như quên đi cả việc phải ngoi lên mặt nước để thở, lâu hơn rất nhiều so với thường lệ. Sau này các nhà khoa học mới khám phá thấy trong thời gian này, cá cha có một bộ phận nằm ngay sát cặp vây ở bụng. Bộ phận này giúp nó hút thêm được chút dưỡng khí trong nước, y hệt như mang cá. Thật tuyệt diệu thay tạo hóa. Cá cha chỉ bỏ đi khi bầy con đã nở hết và tung tăng bơi lội chung quanh tổ. Trong hai tháng đầu đời đoàn cá con dùng mang để hút thở dưỡng khí trong nước như mọi loài cá khác. Khi còn nhỏ chúng sống chung với nhau rất an bình. Nhưng khi bắt đầu lớn lên, chúng trở thành hung hăng, luôn luôn đánh lộn với nhau và cắn nhau rách cả vây, bong cả vẩy. Nhưng những thứ này lại được mọc lên những cái mới để thay thế rất mau chóng. Sau hai tháng, bầy cá con đã lớn mạnh, lúc bấy giờ chúng mới rã bầy, mỗi con tung ra sống một nơi.
 

Tại Phi Châu, bình thường hàng năm, nếu không có hạn hán thì cũng trải qua nhiều tháng nắng cháy làm cạn hết nước ao hồ. Khi nước gần cạn đến lớp bùn, cá phổi mới rút sâu xuống bùn, tự đào một cái tổ tròn như một trái nho khổng lồ, trong rỗng, rồi cá ta mới chui vào giữa. Từ lớp bùn dầy phía trên cá khoét một cái lỗ nhỏ để làm lỗ thông hơi. Nó đang chuẩn bị cho một giấc ngủ dài. Bùn khô dần và từ từ rắn chắc lại như đá. Trong khi đó trong chiếc phòng tương đối vừa khít, con cá phổi cong chiếc đuôi lại, che lấy mặt, từ từ đi vào giấc ngủ miên man, không kể gì đến năm tháng. Từ đó cá hoàn toàn thở bằng phổi.
Nếu không có chuyện gì khác lạ thì chỉ mấy tháng khô ráo là qua mùa sau, mưa sẽ rơi xuống và nước thấm vào làm tan rã chiếc tổ. Cá phổi lại được tự do, ung dung bơi ra, sống lại cuộc đời vui thú của nó. Còn ngược lại, nếu trời làm hạn hán và kéo dài cả nhiều năm thì cá Phổi vẫn tiếp tục ngủ li bì, tuy không ăn uống gì nhưng vẫn sống.

Trong thử nghiệm, người ta đã thấy cá phổi nằm trong cái tổ cứng chắc của nó cả 4 năm trời mà vẫn sống, có điều nó đã tiêu hết những lớp mỡ dự trù trong người nên trong nó nhỏ lại và gầy trơ xương. Nhưng một khi được vùng vẫy trở lại trong nước, được ăn uống thỏa thuê, nó sẽ trở lại mập mạp một cách nhanh chóng không ai thể ngờ nó vừa nằm im bất động trong cái kén bùn suốt cả 4 năm vừa qua. Các nhà bác học đã từng đào lên cả cái tổ cứng của cá phổi, một khối đất tròn vo mà ta gọi là cái kén, rồi đem nó từ Phi Châu về Mỹ. Tại đây họ dùng dùi đục thật sắc, đục nhẹ cho lớp đất bên ngoài vỡ ra để nghiên cứu con cá phổi bên trong. Họ nhận xét, lúc ngủ cá phổi đã tự toát ra một lớp chất nhờn để che phủ làn da khỏi bị khô. Nó cũng không hề bài tiết gì ra ngoài cả mà chính lại dùng nước tiểu tự lọc để dùng lại.

Do vậy, chất nước không bị thoát ra ngoài mà chỉ lẩn quẩn trong cơ thể. Lấy cá phổi ra khỏi cái kén để vậy suốt trong 4 năm, lúc nào cá phổi vẫn vậy, vẫn khô queo, vẫn bất động nhưng vẫn thở thật nhẹ và thật ít. Nhưng một khi bỏ nó xuống nước thì chỉ trong một ít phút thôi, nó sẽ lấy lại năng lực một cách dễ dàng, sẽ vẫy vùng bơi lội và ăn uống như điên. Chỉ ít ngày sau nhìn lại nó, không ai thể ngờ được đó là con cá đã từng ngủ li bì, không ăn uống gì cả suốt một thời gian dài trên 1,500 ngày.
Hiện nay, người ta gửi đi những cái kén cá phổi cho tất cả các hồ cá trên thế giới để trưng bày cho công chúng xem. Dù cuộc hành trình có xa xôi vạn dặm, dù thời gian gặp nhiều trục trặc lâu lắc đến bao nhiêu, khi nhận được kén cá, người ta chỉ việc bỏ chiếc kén vào nước, là chỉ ít phút sau đã thấy cá tung tăng bơi lội. Thật là giản dị và cũng thật huyền diệu thay Tạo Hóa.

Ngỗng - loài động vật thông minh và tình cảm

BẠN BIẾT GÌ VỀ CON NGỖNG?

1. Ngỗng là loài ăn chay, thích nhất ăn cỏ và lúa, hoặc cơm trắng, chỉ vậy thôi. Nếu trong thức ăn của ngỗng, bạn bỏ ít tôm cá vào, ngỗng sẽ không bao giờ đụng đến cái thau đó nữa, dù là sau đó không có tôm cá
- Hoặc bạn cố tình chỉ cho ăn tôm cá hay thịt, ngỗng thà nhịn đói cả tháng rồi chết chứ không ăn.
- Hoặc bạn cố tình nhét thịt cá vào miệng, ngỗng sẽ ói ra




2. Ngỗng có tánh linh rất cao nên dùng cho tâm linh và giữ nhà, ngăn vong này nọ

Chó thấy người bên ngoài cổng nhà là sủa, ngỗng thì khi nào người lạ vào đất/ nhà của bạn, ngỗng mới kêu to, khi nghe tiếng càng dồn dập và mạnh mẽ, chắc chắn có biến

Mảnh đất vong nhiều, Thầy trừ chưa kịp, ngỗng ở 3 ngày trở lên là hết. Phân ngỗng được cho là có tính âm đẩy âm rất cao.

Chó không biết có bão, ngỗng nghe ngóng thời tiết biến chuyển rất tốt
 
Người chủ mới có toàn quyền với ngỗng, người lạ luôn bị ngỗng tấn công, đôi cánh ngỗng quạt mạnh có thể gãy tay

Ngỗng rất chung tình, nếu một con chết đi, con kia thờ phụng trọn đời

Trứng ngỗng được con mái ấp, con trống canh, ngoài chủ ra, ai cũng sẽ bị tấn công nếu đe doạ việc ấp trứng. Và trứng nếu đụng tay vào, sẽ bị thối. Nên dùng cái chén múc lên để lại bên trong nếu trứng bị lăn ra ngoài ổ

Nếu muốn bán ngỗng con, dẫn người vô coi bắt ngay. Chứ để mai bắt là đêm đó ngỗng mẹ mổ cho chết hết đàn con, nhất quyết không cho con về tay người khác.



3. NGỖNG NHIỀU LỢI ÍCH MÀ NHÀ VƯỜN/ NHÀ RỘNG NÊN CÓ:

Nghe tiếng ngỗng kêu, rắn và chuột lánh xa ít nhất vài trăm mét.

Phân ngỗng bạn cứ rắc quanh vườn, quanh nhà, sẽ đuổi được rắn, kể cả rắn hổ đất, độc nhất, đang bò, gần đến nơi có chút xíu phân ngỗng, sẽ co mình chuyển hướng


Tuy nhiên, ngỗng ăn cỏ cây rất nhiều và sẽ xử hết vườn cây cỏ nhà bạn, nên nếu nhà đang có vườn cỏ đẹp, muốn nuôi ngỗng nên quây lưới lại một khoảnh vừa cho ngỗng ở và bơi lội dưới ao, tắm rửa

- bà bầu ăn trứng ngỗng, nên ăn lạt và không chấm bất cứ món gì, kể cả muối, dĩ nhiên kỵ nước mắm

- nếu ngỗng rụng cái lông, đem vào rửa sạch phơi khô gối đầu nằm, rất tốt cho một giấc ngủ yên về tâm linh
lông ngỗng nướng lên cùng viên than hồng, rồi tán nhuyễn ra, trị viêm tai giữa rất hay, tiệt sạch.

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

Chim Nhàn Trắng - Loài chim không làm tổ

Nhàn trắng được mệnh danh là loài chim siêu lười. Ngay từ cái tên "nhàn" chúng ta đã nhận ra sự lười biếng của chúng. Loài này nổi tiếng vì thói quen đẻ trứng ở những chạc cây trên các cành mảnh và trơ trụi thay vì đẻ vào tổ, khác hẳn với các loài nhàn khác (thường đẻ trứng trên mặt đất). Nếu quả trứng này bị rơi thì chúng lập tức sẽ đẻ quả trứng khác.



Lý do có thể là để giảm bớt các loài chim ký sinh khác (loại chim chuyên đẻ trứng vào tổ của chim khác). Dù có lợi ích là vậy nhưng không phải là không có tai hại, nhất là khi những cơn gió lớn có thể hất trứng và chim non xuống. Vì lý do này mà nhàn trắng cũng tìm cách thích nghi; chim non mới nở đã có đôi chân phát triển đầy đủ để có thể bám vào cái tổ cheo leo của mình.


Loài chim này có thức ăn là cá và tuổi thọ chúng cao so với các loài chim khác; người ta từng ghi nhận tuổi đời của chúng là 17 năm.